Âm nhạc Argentine Tango
Yếu tố quan trọng dẫn dắt một điệu nhẩy đó là âm nhạc, với Tango âm nhạc còn hơn như thế, nó là linh hồn: linh hồn của điệu nhẩy - linh hồn của vũ công và .. linh hồn của cảm xúc. Khi trầm lặng trong tiếng khắc khoải của Bandoneo thì máu trong trái tim của vũ công Tango đã chảy theo điệu nhẩy rồi .Âm nhạc của Tango đa dạng và phong phú hơn bất kỳ điều nhẩy nào khác, lịch sử của nó được đánh dấu bởi các Nhạc sĩ tài danh, những người đã dành cả cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo cho Tango
Thập kỉ 1920 và 1930. Carlos Gardel Tango sớm có được chỗ đứng chắc chắn tại Châu Âu, bắt đầu từ Pháp. Siêu sao điện ảnh Rudolph Valentino sớm trở thành biểu tượng gợi tình vì đã mang Tango tới các khán giả mới, đặc biệt là khán giả Mỹ, nhờ vai diễn đã lột tả được vẻ đẹp nhục dục của vũ điệu Tango trên màn ảnh. Những năm 1920, tango đã vượt ra khỏi phạm vi các kĩ viện/ nhà chứa hạ lưu và trở thành loại hình nghệ thuật khiêu vũ được trân trọng hơn. Nhiều nhạc trưởng như Roberto Firpo và Francisco Canaro đã thay thế việc sử dụng sáo bằng nhạc cụ doble bass. Lời ca vẫn mang nét mãnh liệt đặc trưng, trách cứ người phụ nữ đã gây ra những đau đớn tinh thần tột cùng; các bước nhảy vẫn nóng bỏng và quyết liệt. Carlos Gardel có công lớn trong việc chuyển từ thể loại âm nhạc “gangster” của giai cấp hạ lưu sang loại hình khiêu vũ trung lưu được trân trọng hơn. Ông có đóng góp nhiều trong các bài hát về tango thập kỉ 1920 và trở thành một trong những nghệ sĩ tango vĩ đại nhất mọi thời đại. Ông cũng là một trong những người làm nên Kỉ Nguyên Vàng của Tango. Sau khi Gardel mất, Tango phân chia thành 2 khuynh hướng chính: những người đi theo khuynh hướng cách tân như Aníbal Troilo và Carlos di Sarli; những người theo khuynh hướng truyền thống tiêu biểu là Rodolfo Biagi và Juan D’Arienzo. Kỷ Nguyên Vàng Kỷ Nguyên Vàng của âm nhạc và vũ điệu Tango (Golden Age of Tango) là giai đoạn 1935 – 1952, đây cũng được coi là thời đại của các ban nhạc lớn của Mỹ. Trong số những dàn nhạc có sức ảnh hưởng lớn thời kì này, tiêu biểu là các dàn nhạc của Juan D’Arienzo, Francisco Canaro và Aníbal Troilo. D’Arienzo được coi là “Ông hoàng nhip điệu” (King of the beat) vì phong cách âm nhạc dứt khoát và mạnh mẽ của mình, mà điển hình là bài “El Flete” (http://www.goear.com/listen/9f94381/el-flete-juan-darienzo). Các điệu nhảy milonga của Canaro thì thường lại chậm rãi và rất dễ nhảy, vì thế, thường được chơi ở các bữa tiệc tango, ví dụ như “Milonga Sentimental” (http://www.goear.com/listen/ab68791/milonga-sentimental-juan-perro-y-malevaje). Ngay từ đầu Kỷ Nguyên Vàng, và tiếp sau này, các dàn nhạc của Osvaldo Pugliese và Carlos di Sarli đã thu âm nhiều đĩa nhạc. Âm nhạc của Di Sarli rất phong phú và đồ sộ, với âm thanh nhấn nhá của đàn dây và piano vượt lên trên đàn bandoneon, có thể thấy rõ trong các tác phẩm “A la gran muñeca” (http://www.goear.com/listen/2977747/a-la-gran-muneca-orquesta-de-carlos-di-sarli) và “Bahía Blanca” (Tên quê hương ông). Những đĩa nhạc đầu tiên của Pugliese không quá khác biệt so với các dàn nhạc khác, nhưng ông lại đi sâu vào khai thác thể loại âm thanh phức tạp, đa dạng và đôi khi rất nghịch tai, điển hình như trong các bản nhạc hiệu “Gallo Ciego” (http://www.bajarmp3.org/gallo-ciego/Jo7jydNMmCA,3/) , “Emancipación” và “La yumba”. Sau này, âm nhạc của Pugliese được chơi trong các cuộc hội kiến, và không hướng đến mục đích khiêu vũ, mặc dù vì mang âm sắc kịch tính nên nó thường được dùng trong các sân khấu balê(?), và đôi khi cũng được chơi trong các bữa dạ tiệc milonga. Tango mới Ástor Piazzolla là người thống trị thế giới Tango sau đó. Ông trở nên nổi tiếng sau khi tác phẩm “El día que me quieras” (tạm dịch Ngày mà em yêu anh) của Carlos Gardel được phát hành. Những năm 1950s, Piazzolla chủ động tìm tòi sáng tạo ra một loại hình tango mới có sắc thái pop nhiều hơn (pop-oriented), do vậy đã nhận được sự chế giễu của những người theo Chủ nghĩa thuần túy và những vũ công thời trước. Thập kỉ 1970s đã chứng kiến một thủ đô Buenos Aires dung hòa giữa jazz và tango, bên cạnh nhạc tango-rock (là sự kết hợp giữa tango và rock&roll). Các ban nhạc Litto Nebbia và Siglo XX rất nổi tiếng với phong cách này. Những năm gần đây lại là thời kì của ban nhac Achentina 020 (zero2zero) với thiên album “End of Illusions” pha trộn giữa phong cách pop-rock của Anh với Tango mới. Thế hệ nhạc sĩ hậu Piazzolla (1980-) gồm có Dino Saluzzi, Rodolfo Mederos, Enrique Martin Entenza và Juan María Solare. Piazzolla và những người tiếp nối phát triển Tango Mới, kết hợp giữa nhạc jazz và các âm hưởng cổ điển để tạo nên một phong cách trải nghiệm hơn. Neo-Tango/Nuevo Tango Sự phát triển của Tango chưa dừng lại ở đó. Những ví dụ dưới đây được xếp vào “Tango mới” một cách muộn màng chứ không phải ngay từ khi nó trải qua các bước phát triển… Các khuynh hướng gần đây được miêu tả như “Tango electro” hay “Tango Fusion” mà ở đó các âm hưởng điện tử rất phổ biến và ở các cấp độ. Tanghetto và Carlos Libedinsky là 2 nhạc sĩ tiêu biểu cho việc sử dụng “hơi hướng” yếu tố điện tử. Âm nhạc vẫn còn cảm giác tango, giai điệu phức tạp mà lại du dương khiến tango trở nên vô cùng độc đáo. Gotan Project là ban nhạc được thành lập ở Paris năm 1999, gồm các nhạc sĩ Philippe Cohen Solal, Edouardo Makaroff và Christoph H Muller. Năm 2000, họ trình làng tác phẩm đầu tiên “Vuelvo al Sur/El Capitalismo foráneo” (tạm dịch Trở lại miền Nam/ Chủ nghĩa Tư bản nước ngoài), tiếp nối là album “La Revancha del Tango” (Sự phục hồi của Tango) và năm 2004 là album “Inspiración-Espiración”. Các vũ công Tango trên toàn thế giới rất thích nhảy với loại nhạc này, mặc dù nhiều vũ công truyền thống coi đó là sự bứt phá hoàn toàn về phong cách và truyền thống. Âm nhạc của Gotan Project phức tạp hơn rất nhiều so với một số bài hát “electro tango” được sáng tác sau này. Tháng 6 năm 2004, Gotan Project đã quay trở lại studio để sáng tác album mới. Tuyển tập album Bajofondo Tango Club (Underground tango club) và “Supervielle” cũng cho thấy cảm giác electro nhiều hơn của Gotan. Nhịp điệu (beat) của nó đều hơn và âm át hơn. Giai điệu (Rhythm) thì ít phức tạp hơn, song cảm giác tango vẫn có. Có thể thấy rõ điều này qua Hybrid Tango, Tangophobia Vol.1, Tango Crash (âm hưởng Jazz rõ hơn), Nu Tango, Tango Fusion Club Vol.1 của nhóm soạn giả tại Munich, Đức có tên “Tango Fusion Club”; tác phẩm “Felino” của ban nhạc Na-uy “Electrocutango” và CD “Electronic Tango” của đa tác giả. Kevin Johansen cũng là một nghệ sĩ tango mới. Các sáng tác của ông kết hợp giữa dân ca và pop theo giai điệu milonga, theo một cách khác biệt mà rất khó nhận biết nếu không thử nhảy điệu tango với âm nhạc đó. --------------------------------------------------------------- (Cám ơn Liên Azu đã dịch bài này )
Thập kỉ 1920 và 1930. Carlos Gardel
Tango sớm có được chỗ đứng chắc chắn tại Châu Âu, bắt đầu từ Pháp. Siêu sao điện ảnh Rudolph Valentino sớm trở thành biểu tượng gợi tình vì đã mang Tango tới các khán giả mới, đặc biệt là khán giả Mỹ, nhờ vai diễn đã lột tả được vẻ đẹp nhục dục của vũ điệu Tango trên màn ảnh. Những năm 1920, tango đã vượt ra khỏi phạm vi các kĩ viện/ nhà chứa hạ lưu và trở thành loại hình nghệ thuật khiêu vũ được trân trọng hơn. Nhiều nhạc trưởng như Roberto Firpo và Francisco Canaro đã thay thế việc sử dụng sáo bằng nhạc cụ doble bass. Lời ca vẫn mang nét mãnh liệt đặc trưng, trách cứ người phụ nữ đã gây ra những đau đớn tinh thần tột cùng; các bước nhảy vẫn nóng bỏng và quyết liệt.
Carlos Gardel có công lớn trong việc chuyển từ thể loại âm nhạc “gangster” của giai cấp hạ lưu sang loại hình khiêu vũ trung lưu được trân trọng hơn. Ông có đóng góp nhiều trong các bài hát về tango thập kỉ 1920 và trở thành một trong những nghệ sĩ tango vĩ đại nhất mọi thời đại. Ông cũng là một trong những người làm nên Kỉ Nguyên Vàng của Tango.
Sau khi Gardel mất, Tango phân chia thành 2 khuynh hướng chính: những người đi theo khuynh hướng cách tân như Aníbal Troilo và Carlos di Sarli; những người theo khuynh hướng truyền thống tiêu biểu là Rodolfo Biagi và Juan D’Arienzo.
Kỷ Nguyên Vàng
Kỷ Nguyên Vàng của âm nhạc và vũ điệu Tango (Golden Age of Tango) là giai đoạn 1935 – 1952, đây cũng được coi là thời đại của các ban nhạc lớn của Mỹ.
Trong số những dàn nhạc có sức ảnh hưởng lớn thời kì này, tiêu biểu là các dàn nhạc của Juan D’Arienzo, Francisco Canaro và Aníbal Troilo. D’Arienzo được coi là “Ông hoàng nhip điệu” (King of the beat) vì phong cách âm nhạc dứt khoát và mạnh mẽ của mình, mà điển hình là bài “El Flete” (http://www.goear.com/listen/9f94381/el-flete-juan-darienzo). Các điệu nhảy milonga của Canaro thì thường lại chậm rãi và rất dễ nhảy, vì thế, thường được chơi ở các bữa tiệc tango, ví dụ như “Milonga Sentimental” (http://www.goear.com/listen/ab68791/milonga-sentimental-juan-perro-y-malevaje).
Ngay từ đầu Kỷ Nguyên Vàng, và tiếp sau này, các dàn nhạc của Osvaldo Pugliese và Carlos di Sarli đã thu âm nhiều đĩa nhạc. Âm nhạc của Di Sarli rất phong phú và đồ sộ, với âm thanh nhấn nhá của đàn dây và piano vượt lên trên đàn bandoneon, có thể thấy rõ trong các tác phẩm “A la gran muñeca” (http://www.goear.com/listen/2977747/a-la-gran-muneca-orquesta-de-carlos-di-sarli) và “Bahía Blanca” (Tên quê hương ông).
Những đĩa nhạc đầu tiên của Pugliese không quá khác biệt so với các dàn nhạc khác, nhưng ông lại đi sâu vào khai thác thể loại âm thanh phức tạp, đa dạng và đôi khi rất nghịch tai, điển hình như trong các bản nhạc hiệu “Gallo Ciego” (http://www.bajarmp3.org/gallo-ciego/Jo7jydNMmCA,3/) , “Emancipación” và “La yumba”. Sau này, âm nhạc của Pugliese được chơi trong các cuộc hội kiến, và không hướng đến mục đích khiêu vũ, mặc dù vì mang âm sắc kịch tính nên nó thường được dùng trong các sân khấu balê(?), và đôi khi cũng được chơi trong các bữa dạ tiệc milonga.
Tango mới
Ástor Piazzolla là người thống trị thế giới Tango sau đó. Ông trở nên nổi tiếng sau khi tác phẩm “El día que me quieras” (tạm dịch Ngày mà em yêu anh) của Carlos Gardel được phát hành. Những năm 1950s, Piazzolla chủ động tìm tòi sáng tạo ra một loại hình tango mới có sắc thái pop nhiều hơn (pop-oriented), do vậy đã nhận được sự chế giễu của những người theo Chủ nghĩa thuần túy và những vũ công thời trước. Thập kỉ 1970s đã chứng kiến một thủ đô Buenos Aires dung hòa giữa jazz và tango, bên cạnh nhạc tango-rock (là sự kết hợp giữa tango và rock&roll). Các ban nhạc Litto Nebbia và Siglo XX rất nổi tiếng với phong cách này. Những năm gần đây lại là thời kì của ban nhac Achentina 020 (zero2zero) với thiên album “End of Illusions” pha trộn giữa phong cách pop-rock của Anh với Tango mới.
Thế hệ nhạc sĩ hậu Piazzolla (1980-) gồm có Dino Saluzzi, Rodolfo Mederos, Enrique Martin Entenza và Juan María Solare. Piazzolla và những người tiếp nối phát triển Tango Mới, kết hợp giữa nhạc jazz và các âm hưởng cổ điển để tạo nên một phong cách trải nghiệm hơn.
Sự phát triển của Tango chưa dừng lại ở đó. Những ví dụ dưới đây được xếp vào “Tango mới” một cách muộn màng chứ không phải ngay từ khi nó trải qua các bước phát triển… Các khuynh hướng gần đây được miêu tả như “Tango electro” hay “Tango Fusion” mà ở đó các âm hưởng điện tử rất phổ biến và ở các cấp độ.
Tanghetto và Carlos Libedinsky là 2 nhạc sĩ tiêu biểu cho việc sử dụng “hơi hướng” yếu tố điện tử. Âm nhạc vẫn còn cảm giác tango, giai điệu phức tạp mà lại du dương khiến tango trở nên vô cùng độc đáo. Gotan Project là ban nhạc được thành lập ở Paris năm 1999, gồm các nhạc sĩ Philippe Cohen Solal, Edouardo Makaroff và Christoph H Muller. Năm 2000, họ trình làng tác phẩm đầu tiên “Vuelvo al Sur/El Capitalismo foráneo” (tạm dịch Trở lại miền Nam/ Chủ nghĩa Tư bản nước ngoài), tiếp nối là album “La Revancha del Tango” (Sự phục hồi của Tango) và năm 2004 là album “Inspiración-Espiración”. Các vũ công Tango trên toàn thế giới rất thích nhảy với loại nhạc này, mặc dù nhiều vũ công truyền thống coi đó là sự bứt phá hoàn toàn về phong cách và truyền thống. Âm nhạc của Gotan Project phức tạp hơn rất nhiều so với một số bài hát “electro tango” được sáng tác sau này. Tháng 6 năm 2004, Gotan Project đã quay trở lại studio để sáng tác album mới.
Tuyển tập album Bajofondo Tango Club (Underground tango club) và “Supervielle” cũng cho thấy cảm giác electro nhiều hơn của Gotan. Nhịp điệu (beat) của nó đều hơn và âm át hơn. Giai điệu (Rhythm) thì ít phức tạp hơn, song cảm giác tango vẫn có. Có thể thấy rõ điều này qua Hybrid Tango, Tangophobia Vol.1, Tango Crash (âm hưởng Jazz rõ hơn), Nu Tango, Tango Fusion Club Vol.1 của nhóm soạn giả tại Munich, Đức có tên “Tango Fusion Club”; tác phẩm “Felino” của ban nhạc Na-uy “Electrocutango” và CD “Electronic Tango” của đa tác giả.
Kevin Johansen cũng là một nghệ sĩ tango mới. Các sáng tác của ông kết hợp giữa dân ca và pop theo giai điệu milonga, theo một cách khác biệt mà rất khó nhận biết nếu không thử nhảy điệu tango với âm nhạc đó.
---------------------------------------------------------------
(Cám ơn Liên Azu đã dịch bài này )
Lớp Salsa + Bachata cơ bản 29 - 11 - 2011 (06/09)
Khai giảng Salsa & Bachata cơ bản 2 (07/07/2011) (01/06)
Các thể loại Bachata Dances (24/05)
Martha Graham, cuộc đời và phong cách Martha Graham (11/05)
Tango theo thời gian.. (29/04)